Đánh thuế thu nhập từ thừa kế hợp đồng góp vốn mua nền nhà

Việc miễn thuế TNCN chỉ áp dụng đối với cá nhân chuyển nhượng bất động sản duy nhất mà nhà ở, đất ở đã được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng.

Đánh thuế thu nhập từ thừa kế hợp đồng góp vốn mua nền nhà
Bộ Tài chính đã điều chỉnh hàng loạt quy định liên quan đến thuế thu nhập cá nhân. Những quy định mới này sẽ được áp dụng ngay đối với thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản. Theo đó, Bộ Tài chính cũng quy định chặt chẽ hơn việc miễn thuế TNCN trong việc chuyện nhượng bất động sản.

Hội thảo pháp luật về quy định thừa kế

Hội thảo pháp luật về quy định thừa kế
Để giúp người dân có những hiểu biết nhiều hơn về các quy định về thừa kế, vừa qua, Trung tâm tư vấn pháp luật- Hội Luật gia tổ chức hội thảo chuyên đề pháp luật thừa kế và những vấn đề thực tiễn.

Chết trong nhà gần 8 năm không ai biết

Chết trong nhà gần 8 năm không ai biết
Bà Natalie Wood chết trong nhà 8 năm mà không ai biết
 Một người phụ nữ lớn tuổi sống ở thành phố Sydney, Australia đã qua đời tại nhà riêng từ đầu năm 2004 nhưng không ai hay biết.

Chia di sản thờ cúng

Câu hỏi
Ông A (có 4 con là B, C , D, E) lập di chúc để lại toàn bộ căn nhà cho con trai trưởng là B, đồng thời giao nghĩa vụ “B có trách nhiệm quản lý, sử dụng căn nhà để thờ cúng tổ tiên đời đời kiếp kiếp mà không được bán căn nhà”. C, D, E khởi kiện đòi chia căn nhà. Trường hợp này được giải quyết như thế nào?

Khai nhận di sản thừa kế gồm nhiều bất động sản tại nhiều địa phương

Câu hỏi
Bố em mất có để lại nhiều tài sản và bất động sản tại nhiều địa phương. Nhà có 6 anh chị em đều nhất trí để toàn bộ tài sản thừa kế cho mẹ. Vậy xin hỏi phải làm thủ tục như thế nào? Có phải tới những nơi có bất động sản để công chứng không? Và có phải có cả 6 anh chị em để ký xác nhận chuyển quyền thừa kế cho mẹ hay không?

Quyền của mẹ và anh chị em đối với di sản do một người để lại

Câu hỏi
Gia đình ông bà nội tôi sinh được 5 người con trai. Bố tôi là con trưởng trong nhà nhưng đã mất. Sổ đỏ mang tên bố tôi cách đây 30 năm. Bà nội tôi và các chú có quyền đòi hỏi gì trong trường hợp này không?

Trả lời

Khi bố bạn chết thì tài sản của bố bạn là quyền sử dụng đất (đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên bố bạn) trở thành di sản thừa kế. Di sản thừa kế của bố bạn được chia cho các thừa kế theo di chúc hoặc chia cho những người thừa kế theo pháp luật. Có hai trường hợp xác định quyền thừa kế của bà nội và chú bạn như sau:

* Trường hợp bố bạn để lại di chúc: Nếu bố bạn để lại di chúc với nội dung để lại tài sản của mình cho bà nội và các chú bạn. Theo nội dung di chúc này thì bà nội và các chú bạn có quyền hưởng di sản thừa kế do bố bạn để lại. Ngược lại, nếu trong di chúc không để lại tài sản cho bà và các chú thì những người này không có quyền đòi hỏi quyền lợi đối với di sản của mình theo di chúc đó.

* Trường hợp bố bạn không để lại di chúc hoặc di chúc không hợp pháp … (theo Điều 675 Bộ luật Dân sự) thì di sản do bố bạn để lại được chia thừa kế theo pháp luật. Những người được hưởng di sản thừa kế xác định theo Điều 676 Bộ luật Dân sự, theo thứ tự sau đây:

- Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

- Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

- Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

Theo quy định trên thì có thể xác định như sau:

- Quyền của bà nội bạn: Bà nội bạn là một trong các đồng thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất theo quy định của pháp luật do đó bà nội có quyền hưởng một phần di sản do bố bạn để lại. Khi các đồng thừa kế chia di sản thừa kế, bà nội bạn có quyền cùng tham gia chia thừa kế để hưởng quyền lợi của mình.

- Quyền của các chú bạn: Các chú bạn cũng là người thừa kế theo pháp luật của bố bạn nhưng lại thuộc hàng thừa kế thứ hai (anh chị em ruột của người để lại di sản). Do vậy, các chú bạn chỉ có quyền đòi quyền lợi của mình liên quan đến di sản của bố bạn khi không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.
Trân trọng./.
 

Một số nội dung về thừa kế trong pháp luật

NGUYỄN PHƯƠNG THẢO & LỤC THANH THỦY, Vụ Tổ chức – Cán bộ TANDTC

Thừa kế là một chế định quan trọng trong pháp luật dân sự Việt Nam, có ý nghĩa rất lớn trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực thừa kế. Từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến năm 1959, Sắc lệnh 90/SL ngày 10/10/1945 cho phép tạm thời áp dụng những văn bản pháp luật dân sự của chế độ cũ với điều kiện "những luật lệ ấy không trái với nguyên tắc độc lập của nước Việt Nam và chính thể cộng hoà". Tại Điều 27 Hiến pháp năm 1980 cũng ghi nhận "Pháp luật bảo hộ quyền thừa kế tài sản của công dân". Tiếp theo, Thông tư số 81 ngày 27/7/1981 của Toà án nhân dân tối cao đã hướng dẫn giải quyết các tranh chấp về thừa kế. Ngày 30/8/1990, Hội đồng Nhà nước nước CHXHCN Việt Nam đã thông qua Pháp lệnh thừa kế.

Bộ Luật dân sự số 33/2005/QH11 của Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam thông qua ngày 14 tháng 06 năm 2005

Bộ luật dân sự quy định địa vị pháp lý, chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác; quyền, nghĩa vụ của các chủ thể về nhân thân và tài sản trong các quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (sau đây gọi chung là quan hệ dân sự).

Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15 tháng 08 năm 2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Luật Thuế thu nhập cá nhân, luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân và Nghị định số 65/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân và luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân

Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15 tháng 08 năm 2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Luật Thuế thu nhập cá nhân, luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân và Nghị định số
65/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân và luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân

Nghị định số 71/2010/NĐ-CP ngày 23 tháng 06 năm 2010 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở

Nghị định này quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung về sở hữu nhà ở, phát triển nhà ở, quản lý việc sử dụng nhà ở, giao dịch về nhà ở và quản lý nhà nước về nhà ở quy định tại Luật Nhà ở.

Khai nhận di sản thừa kế theo bản di chúc không có xác nhận của chính quyền

Câu hỏi
Bố chồng tôi mất năm 2001 có để lại di chúc cho vợ chồng tôi và vợ chồng chú út một nhà 4 gian cùng mảnh vườn theo chiều trước và sau nhà. Nhưng chú út đã tách chia mảnh vườn trên theo chiều phía trước nhà. Khi mẹ chồng tôi sắp mất có giao lại di chúc cho anh trưởng thực hiện di chúc mà bố mẹ chồng tôi để lại nhưng di chúc đó không có xác nhận của chính quyền địa phương. Dòng họ bên chồng tôi đã họp bàn và có văn bản và giao di chúc lại cho vợ chồng tôi. Vậy chúng tôi chuyển quyền sử dụng đất theo di chúc của bố mẹ chồng tôi thì cần làm như thế nào?

Trả lời

Khi bố mẹ chồng bạn để lại di chúc để định đoạt di sản của mình thì những người được nhận di sản có quyền và nghĩa vụ làm thủ tục khai nhận di sản thừa kế đó theo đúng nội dung di chúc. Việc khai nhận, phân chia di sản thừa kế được thực hiện theo trình tự, thủ tục quy định của Luật Công chứng và văn bản hướng dẫn. Sau khi khai nhận và phân chia di sản thì người được hưởng di sản sẽ làm thủ tục đăng ký quyền sử dụng đất tại cơ quan đăng ký nhà đất có thẩm quyền. Cụ thể như sau:

* Công chứng văn bản khai nhận, phân chia di sản thừa kế

- Những người tiến hành khai nhận, phân chia di sản:

Là hai vợ chồng bạn và hai vợ chồng chú Út (là những người được được hưởng di sản theo di chúc).

Ngoài ra, nếu bố mẹ bạn có những người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc theo Điều 669 Bộ luật Dân sự (gồm: Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng; Con đã thành niên mà không có khả năng lao động) thì những người đó cũng có quyền tiến hành thủ tục khai nhận, phân chia di sản thừa kế.

- Cơ quan công chứng văn bản thừa kế: Bạn có thể yêu cầu bất kỳ tổ chức công chứng nào trên địa bàn nơi có bất động sản.

- Bộ hồ sơ yêu cầu công chứng gồm:

+ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;

+ Giấy chứng tử của bố, mẹ bạn;

+ Di chúc

+ Giấy tờ tùy thân của các thừa kế;

+ Những giấy tờ khác mà pháp luật yêu cầu cần phải có.

- Thủ tục:

Sau khi kiểm tra hồ sơ thấy đầy đủ, phù hợp quy định của pháp luật, cơ quan công chứng tiến hành niêm yết công khai tại trụ sở Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi thường trú trước đây của người để lại di sản; trong trường hợp không có nơi thường trú, thì niêm yết tại Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi tạm trú có thời hạn của người đó. Nếu không xác định được cả hai nơi này, thì niêm yết tại Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi có bất động sản của người để lại di sản.

Sau 15 ngày niêm yết, không có khiếu nại, tố cáo gì thì cơ quan công chứng chứng nhận văn bản thừa kế. Hai vợ chồng bạn và vợ chồng chúc Út lập văn bản thừa kế để phân chia di sản thừa kế theo đúng nội dung di chúc của bố mẹ chồng bạn để lại.

* Thủ tục đăng ký quyền sử dụng đất mang tên vợ chồng bạn

Sau khi tiến hành thủ tục khai nhận di sản thừa kế theo di chúc thì vợ chồng bạn có thể nộp một bộ hồ sơ đến cơ quan nhà đất có thẩm quyền để đăng ký sang tên vợ chồng bạn.

- Cơ quan tiến hành: Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thuộc Phòng tài nguyên và môi trường cấp huyện nơi có đất.

- Hồ sơ: Bản chính văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế; di chúc; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; giấy tờ khác (giấy tờ tùy thân của bạn, giấy chứng tử …).

- Thủ tục:

Văn phòng đăng ký nhà đất sau khi nhận hồ sơ sẽ có trách nhiệm thẩm tra hồ sơ, làm trích sao hồ sơ địa chính; gửi số liệu địa chính cho cơ quan thuế để xác định nghĩa vụ tài chính (nếu có); chỉnh lý giấy chứng nhận đã cấp hoặc thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận đối với trường hợp phải cấp mới giấy chứng nhận; Sau khi thực hiện xong nghĩa vụ tài chính (nếu có) thì vợ chồng bạn sẽ được nhận giấy chứng nhận nhận quyền sử dụng đất mang tên hai vợ chồng.

Trên đây là hướng dẫn đối với trường hợp khai nhận di sản thừa kế của bố mẹ chồng bạn theo di chúc. Việc khai nhận di sản thừa kế theo di chúc chỉ được tiến hành khi di chúc của bố mẹ bạn được coi là hợp pháp theo quy định tại Điều 652 Bộ luật Dân sự:

1. Di chúc được coi là hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ hoặc cưỡng ép;

b) Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật.

2. Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý.

3. Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.

4. Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Ðiều này.

5. Di chúc miệng được coi là hợp pháp, nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó những người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng hoặc chứng thực.

Đối với di chúc của bố mẹ bạn (là di chúc bằng văn bản không có người làm chứng theo Điều 655 Bộ luật Dân sự thì người lập di chúc phải tự tay viết và ký vào bản di chúc; và phải tuân theo quy định tại Ðiều 653 của Bộ luật này về nội dung của di chúc: Di chúc phải ghi rõ:

- Ngày, tháng, năm lập di chúc;

- Họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc;

- Họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản hoặc xác định rõ các điều kiện để cá nhân, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản;

- Di sản để lại và nơi có di sản;

- Việc chỉ định người thực hiện nghĩa vụ và nội dung của nghĩa vụ.

- Di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu; nếu di chúc gồm nhiều trang thì mỗi trang phải được đánh số thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc.

Trong trường hợp di chúc của bố mẹ chồng bạn không được coi là hợp pháp thì di sản thừa kế được chia theo pháp luật (điểm b khoản 1 Điều 675 Bộ luật Dân sự). Các thủ tục khai nhận thừa kế cũng thực hiện theo hướng dẫn nêu trên nhưng những người thực hiện việc khai nhận sẽ gồm: những người được hưởng di sản thừa kế theo pháp luật quy định tại Điều 676 Bộ luật Dân sự:

- Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

- Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

- Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

Trân trọng./.

Mua nhà nhưng một trong các chủ sở hữu đã mất và một trong các thừa kế đang có nghĩa vụ tài sản với nhiều người

Câu hỏi
Em dự định mua một căn nhà nhưng có vấn đề như sau: Nhà đã được cấp giấy chứng nhận mang tên bố và mẹ, nay người mẹ đã mất. Họ có 2 người con nhưng một trong hai người con đang nợ nần bên ngoài rất nhiều. Hiện tại hai người con đều ủy quyền cho bố để bán tài sản. Vậy tài sản đó có được sang tên theo đúng quy định pháp luật hay không? Và những chủ nợ có quyền kiện đòi nợ hay không?

Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10 tháng 8 năm 2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án Nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình

Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10 tháng 8 năm 2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án Nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình

Nghị quyết số 01/2003/NQ-HĐTP ngày 16 tháng 4 năm 2003 của Hội đồng Thẩm phán Toàn án Nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết một số loại tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình

Nghị quyết số 01/2003/NQ-HĐTP ngày 16 tháng 4 năm 2003 của Hội đồng Thẩm phán Toàn án Nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết một số loại tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia
đình

Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 03 tháng 10 năm 2001 của Chính phủ số 70/2001/NĐ-CP ngày 03 tháng 10 năm 2001 quy định chi tiết thi hành Luật Hôn nhân và gia đình

Nghị định này quy định chi tiết thi hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, trừ các quy định về đăng ký kết hôn, đăng ký nuôi con nuôi, hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, việc áp dụng Luật Hôn nhân và gia đình đối với các dân tộc thiểu số, xác định cha, mẹ cho con được sinh ra theo phương pháp khoa học,
việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật khác của Chính phủ.

Tranh chấp thừa kế 20 năm chưa được xét xử

Tòa đã thụ lý vụ án cách đây hơn 20 năm nhưng vẫn chưa được đưa ra xét xử khiến những người có quyền và nghĩa vụ liên quan khổ sở trăm bề.

Tranh chấp thừa kế 20 năm chưa được xét xử

Bà N.T.M.L., 53 tuổi, là người có quyền và nghĩa vụ liên quan trong vụ án, hiện ngụ tại 369D Lê Quang Định, P.5, Q.Bình Thạnh (TP.HCM), trình bày: thửa đất rộng hơn 2.000m2 tại địa chỉ 369 Lê Quang Định do ông bà ngoại của bà L. tạo lập, có giấy tờ được ghi nhận từ trước năm 1975. Đến năm 1988 cả hai ông bà mất không để lại di chúc. Việc phân chia xảy ra mâu thuẫn.

Khởi kiện yêu cầu chia di sản bỏ sót người thừa kế

Câu hỏi
Ông bà ngoại tôi mất trước năm 1975 có để lại 1 lô đất 200m2 nhưng không có di chúc. Sau đó cậu tôi chuyển lô đất sang quyền sở hữu của cậu nên má tôi và các dì có gửi đơn kiện về việc này. Do thời hiệu khởi kiện đã hết nên Tòa án hướng dẫn gia đình yêu cầu cơ quan quản lý thu hồi sổ đỏ của cậu và mọi người ký vào biên bản xác nhận tài sản chung của ông bà để lại. Mọi việc đã xong nhưng khi chia tài sản chung thì cậu tôi không hợp tác. Nay má tôi và các dì nộp đơn yêu cầu tòa án can thiệp. Việc làm này của má tôi và các dì có đúng không? Ông ngoại tôi có 1 con riêng đã mất (nhưng người mất vẫn còn con) nhưng khi nộp đơn chia tài sản thì má tôi không nhắc đến người con riêng này. Vậy má tôi có bị truy tố về tội bỏ sót người thừa kế không? Giấy tờ nào có thể chứng minh người đã mất là con ngoài giá thú của ông ngoại tôi. Tôi xin cảm ơn.
Câu hỏi

Gia đình tôi có 6 người con: 2 trai và 4 gái, các con đã lập gia đình và có nhà cửa đất đai. Nay tôi muốn lập di chúc cho người con trai thứ thì cách lập di chúc hợp pháp như thế nào?

Trả lời

Di chúc được coi là hợp pháp phải có đủ các điều kiện theo quy định tại Điều 652 Bộ luật Dân sự:

- Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ hoặc cưỡng ép;

- Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật.

Khi lập di chúc, bác có thể lựa chọn một trong các hình thức sau:

- Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng.

- Di chúc bằng văn bản có người làm chứng (Người làm chứng cho việc lập di chúc có thể bất kỳ người nào, trừ những người sau đây: Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc; Người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc; Người chưa đủ mười tám tuổi, người không có năng lực hành vi dân sự);

- Di chúc bằng văn bản có công chứng;

- Di chúc bằng văn bản có chứng thực.

Trong di chúc, bác cần thể hiện rõ các nội dung nêu tại Điều 653 Bộ luật Dân sự, cụ thể như sau:

- Ngày, tháng, năm lập di chúc;

- Họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc;

- Họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản hoặc xác định rõ các điều kiện để cá nhân, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản;

- Di sản để lại và nơi có di sản;

- Việc chỉ định người thực hiện nghĩa vụ và nội dung của nghĩa vụ.

Di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu; nếu di chúc gồm nhiều trang thì mỗi trang phải được đánh số thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc.
 
Trân trọng./.

Nghị quyết số 58/1998/NQ-UBTVQH10 ngày 20 tháng 8 năm 1998 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày 1 tháng 7 năm 1991

Nguyên tắc giải quyết Các giao dịch dân sự về nhà ở thuộc sở hữu tư nhân được xác lập trước ngày 1 tháng 7 năm 1991 (ngày Pháp lệnh nhà ở năm 1991 có hiệu lực) được giải quyết theo quy định của Nghị quyết
này; việc giải quyết phải được thực hiện từng bước phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước

Bộ luật Dân sự số 44-L-CTN nước CHXHCN Việt Nam thông qua ngày 28 tháng 10 năm 1996

Bộ luật Dân sự số 44-L-CTN nước CHXHCN Việt Nam thông qua ngày 28 tháng 10 năm 1995
Bộ luật dân sự có nhiệm vụ bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, bảo đảm sự bình đẳng và an toàn pháp lý trong quan hệ dân sự, góp phần tạo điều kiện đáp ứng các nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân, thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội.

Quyền thừa kế của con khi giấy khai sinh không ghi tên người mẹ

Câu hỏi
Khi giấy khai sinh không ghi tên của người mẹ thì người con đó có được quyền thừa kế đối với di sản của mẹ không (trường hợp mẹ không để lại di chúc)?

Trả lời

Khi người để lại di sản thừa kế không để lại di chúc thì di sản được chia theo pháp luật. Người thừa kế theo pháp luật được quy định tại Điều 676 Bộ luật Dân sự:

Xác định và phân chia di sản thừa kế

Câu hỏi
Bà nội tôi mất cách đây 1 năm, không để lại di chúc (ông nội cũng đã qua đời trước bà nội lâu rồi). Bà nội có 5 người con. Bà để lại mảnh đất và ngôi nhà trên đất đó. Ngoài ra còn có 2 cây vàng (bà nội cho cô Sáu tôi mượn để làm ăn nhưng cô Sáu cố tình không trả). Chú 7 đã chết (chú có 1 vợ và 4 đứa con). Tuy nhiên, trước đây thì bà nội đã cho chú Chín tôi một phần đất nhỏ để ở (phần đất này thuộc mảnh đất của bà nội tôi nêu trên nhưng không rõ là miếng đất đó đã tách riêng quyền sử dụng đất chưa). Xin hỏi: Tài sản được coi là di sản thừa kế bao gồm những gì? Cách phân chia tài sản đó như thế nào?

Dự thảo online: Cho dâu, rể thừa kế: Khó khả thi

Đưa dâu, rể vào hàng thừa kế thứ nhất sẽ rối cho việc thực thi pháp luật, thậm chí gây rối loạn xã hội.
Điểm mới của dự thảo Luật Hôn nhân và Gia đình sửa đổi, bổ sung lần này là con dâu, con rể có thể được thừa kế di sản của cha mẹ chồng, cha mẹ vợ.

Tranh chấp nhà đất và quyền thừa kế với người Việt Nam định cư ở nước ngoài

Câu hỏi
Trước khi chúng tôi kết hôn (năm 2004), vợ tôi có mua mảnh đất nông nghiệp (từ năm 2003). Sau đó vợ chồng chúng tôi xây dựng nhà ở và mở doanh nghiệp kinh doanh mua bán trên mảnh đất đó. Năm 2007, cơ quan cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do một mình vợ tôi đứng tên (thời hạn sử dụng đến tháng 10/2013). Tháng 6/2012, vợ tôi qua đời không để lại di chúc. Nay cha mẹ vợ tôi định cư ở nước ngoài (quốc tịch Mỹ) về tranh chấp đòi lại đất và tài sản gắn liền với đất với lý do: ông bà cho con gái đứng tên dùm quyền sử dụng đất (nhưng ông bà không có giấy tờ gì). Vậy tôi phải giải quyết như thế nào? Đây có phải là tài sản chung của vợ chồng tôi không? Tôi và hai con có quyền thừa kế toàn bộ di sản của vợ không? Di sản được phân chia như thế nào? Người định cư nước ngoài có quyền tranh chấp và chia di sản của con không?

Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 19 tháng 10 năm 1990 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án Nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp lệnh thừa kế

Pháp lệnh Thừa kế được Hội đồng Nhà nước thông qua ngày 30-8-1990. Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn các Toà án nhân dân các cấp áp dụng một số quy định của Pháp lệnh này như sau: